Một bữa no | Truyện ngắn Nam Cao

Bà lão ấy luôn phải khéo léo suốt một đêm. Mỗi lần bà làm ăn hết đường đất, bà lại bỏ rơi con. Làm như con không phải của bà mà giờ đây bà lại đói. Thật đúng như thế. Chồng bà đã mất từ khi con còn trong bụng. Bà cất bụng buộc bụng, nuôi con từng tấm từng tí. Bà hy vọng khi già, không còn sức mà nhờ đến. Nhưng chưa đủ thời gian để mẹ nhờ, con lại qua đời trước. Công đức của bà đã tan thành mây khói.

Người vợ con không giống người. Nó có biết thương mẹ già đâu! Ngay sau khi chồng nó mới qua đời, nó vội vàng đi tìm chồng mới và để lại con gái cho bà. Bà phải làm việc nặng nhọc, nuôi nó từng chút một. Hết sức, hết thịt vì con, vì cháu, nhưng không có sự trông mong gì.

Bảy năm qua đi, bà nuôi nó mà giúp nó đi làm con nuôi được mười đồng. Nhưng từ khi cha mất, con lại mất tám đồng. Còn lại hai đồng, bà dùng để buôn bán, kiếm lãi. Nhưng chỉ kiếm được vài xu mỗi ngày. Cuộc sống đơn độc như vậy, thật khổ khó. Nghĩ đến nắng gió mà bà đã sợ.

Dù thế, bà vẫn cần ăn. Nếu không phải ăn, cuộc sống sẽ giản dị hơn bao giờ hết. Thức ăn không bao giờ tự nhiên chạy vào miệng. Phải làm việc mới có. Nhưng bây giờ yếu đuối, bà không còn kháng cự được công việc nặng nề và không thể chịu được nắng sương. Bà phải tìm việc nhà, việc nội trợ. Ở làng này, chỉ có việc trông em bé, như một đứa trẻ mười một, mười hai tuổi. Lúc đầu, có nhiều người muốn thuê. Ai cũng nghĩ rằng: những người già thường thận trọng và không cần nhiều, bữa lưng bữa vực thế nào cũng đủ no; nhưng nếu không no, những người già cũng chỉ lặng im, không buồn rầu như những người trẻ tuổi, họ không thích chia sẻ chuyện gia đình với hàng xóm… Nhưng thuê bà được ít lâu, người ta chán. Người ta nhận ra rằng: thuê một đứa trẻ con lại có phần thích hơn. Trẻ con không biết nói. Khi tức giận, có muốn đánh nó cơm nó dăm ba cái, cứ đánh. Không ai kêu ác! Nhưng bà lão đã già. Người ta tức bà đến mức cảm thấy không thể đánh bà xuống nổi. Cũng không thể chửi bà. Mắng một câu, đã đủ mang tiếng là con người tệ. Mà bà thì lởn vởn, chậm chạp, lì rì. Bà cử chỉ như người xẩm rồ. Tay bà run run khi đưa bát cơm lên miệng. Cơm vương vãi. Tương mắm rớt ra mâm, rớt xuống áo bà, rớt cả vào đầu tóc, mặt mũi, quần áo đứa bé đang nằm trong lòng bà. Rồi hơi trái gió, trời, bà lại đau. Suốt đêm, bà thở dài và khóc lóc vì con. Âm thanh đáng sợ. Bà không thể làm gì trong tình huống đó. Và vì thế, người ta lại tìm cớ để đuổi bà đi. Bà lại phải tìm nơi ở khác… Trong vòng không đầy một năm, bà đã thay đổi năm, sáu người chủ. Mỗi lần thay đổi chủ là một lần giảm giá. Ban đầu, chỉ được ăn một tấm cơm mỗi ngày. Rồi một tháng ăn năm tấm. Rồi một năm, bốn đồng. Rồi hai đồng. Sau đó không còn đồng nào nữa. Đến mức đó, không có ai chịu. Một ngày kia, người chủ cuối cùng sai bà mang hai cái lọ đi lấy nước. Bà nói: bà chỉ có thể mang một cái lọ. Người ta đã làm khó chịu bà, nhưng bà đã cố nhưng không ngừng. Bà chỉ mang một cái lọ nước đầy, bước lên bờ từ dưới cầu ao nhưng không biết làm sao mà ngã xuống, vỡ tan cái lọ và làm thương tay. Nghe tiếng bà kêu, chủ nhà phải chạy ra giúp bà. Không ai dư cơm cho báo cô bà. Người ta đã cho bà năm đồng để bà nghỉ hưu. Từ đó đến giờ đã hơn ba tháng.

Hơn ba tháng, bà lão chỉ ăn toàn bánh đúc. Ban đầu, bà nhận được ba tấm mỗi ngày. Rồi cuối cùng, không còn một tấm nào. Tiền đã hết. Mỗi sáng, bà ra chợ xin một miếng từ người này, một miếng từ người kia. Ai có thể cho ngày nào cũng cho như vậy? Sự thương xót cũng có giới hạn. Mấy ngày gần đây, bà đang chịu đói. Vì vậy bà bỏ rơi con. Bà rơi rụng thê thảm. Bà rơi rụng cả đêm. Bà khóc đến chừng mòn sạch nước mắt. Đến sáng, bà không còn sức để khóc nữa. Bà nằm nghỉ trên chiếu, suy nghĩ. Có người nói: khi đói, đầu óc sẽ tỉnh táo. Có lẽ đúng như vậy. Bởi vì bà bỗng nảy ra một ý tưởng. Bà bắt đầu đi.

Cứ đi một đoạn ngắn, bà phải ngồi xuống nghỉ. Nghỉ một lúc, bà mới ngừng đau, tai bớt ồn ào, mắt bớt tối tăm, cơ thể trở nên bình thường. Bà nghỉ suốt năm sáu quãng đường. Cuối cùng, bà đã đến nhà mình: nhà bà phó Thụ, nơi con đĩ đang sống. Bà thường gọi nó như vậy, ngay từ khi nó còn bé; đĩ tức là đứa con của con trai đã lấy vợ và về quê xây nhà, để lại mẹ mình và cả gia tài mà họ đã có được. Con trai không còn phải khổ sở như bà ngày nay.

Bà nghĩ về con, để ghen với nó lần nữa, trong khi ngồi nghỉ bên đầu ngõ nhà bà phó Thụ. Tại đầu ngõ nhà bà phó Thụ, có một cây sung lớn. Bà tựa lưng vào cây. Từ đầu ngõ vào đến nhà, còn hai cánh cổng. Khi gọi to, từ trong nhà mới nghe tiếng. Nhưng bà không có sức để gọi. Tiếng bà tàn nhẫn như một vài người khác bạ lúc nào cũng thở dài. Điều ấy trở thành thói quen.

  • Ai đó? Ai ngồi đấy? Chúng nó ra, chúng nó ra nhổ mỡ cho đấy. Sao mà hùng hổ thế?

Bà lão quay lại mỉm cười móm mém.

  • Xin chào! Bà đã đi chợ về!

Bà phó Thụ mở to đôi mắt đỏ ngầu, nhìn kỹ hơn một chút. Bà nhận ra đó là bà đĩ. Tức thì mặt bà nguỵu xuống. Bà lão này còn muốn quấy rối gì nữa đây? Để xin thêm tiền chăng? Bà lão mếu máo.

  • Xin chào bà, bà dạy thế thật oan cho con quá. Trời để con sống đến tuổi này, con không dám lừa gạt hay sao? Thật có trời làm chứng, nếu con quyết định đến đây để dỗ dành cháu về để đem cho người khác, thì trời hãy đánh chết con đi! Con chỉ muốn bà cho được trông thấy cháu, bà và cháu chơi với nhau một chút. Cũng không còn lâu nữa con chết, con cũng tưởng đi chơi già một bận…

  • Nó không được rỗi mà chơi với bà. Chẳng chơi gì cả! Bà đã đi lên thì vào đây, tôi cho một bữa cơm. Sau đừng vẽ con khỉ nữa. Nhà tôi không để chúng ăn như vậy. Con tôi đi học ở Hà Nội, tôi cũng phải ra đây chơi, mai ra chơi với nó đấy! Đã đi ở nhà mà còn không biết phận… Chơi vào đấy!

Môi bà phó chiệp chiệp và xìa ra…

Cái đĩ vừa nhìn thấy bà, vừa mừng vui. Nó cười sau đó lại khóc không biết vì sao. Nhưng đôi mắt hay ướt. Nó không dám nhìn lên mặt bà nữa. Nó cúi đầu, nhè nhẹ hỏi:

  • Bà đi đâu đấy?

  • Bà đến xin bà phó một bữa cơm ăn đây! Bà đói lắm.

Câu nói thật thà đó, bà lão dùng giọng đùa mà nói. Như thế người ta gọi là nửa đùa nửa thật. Một cách lấp liếm ý định của mình bằng cách nói toạc nó ra. Cái đĩ bế em, dẫn bà ra đầu chái, để không bị ai nhìn thấy nữa…

  • Da bà xấu quá! Sao bà gầy thế?

  • Chỉ đói thôi, cháu ạ. Chẳng sao hết.

  • Lớp này bà ở với nhà ai?

  • Chẳng ở với nhà ai.

  • Thế lại đi buôn à?

  • Vốn đâu mà đi buôn? Với lại có vốn cũng không đi được. Người nhọc lắm.

  • Thế thì lấy gì làm ăn?

  • Chỉ nhịn thôi chứ lấy gì mà ăn!

Bà phó Thụ đã không nói một lời, bê lấy bát cơm và ăn. Mặt bà vẫn hầm hầm. Lũ con gái, con nuôi, con nuôi nuôi, biết đồ nghề, ngấu nghiến chung quanh cái mâm gỗ đặt ngay trên mặt đất. Cả nhà xung quanh, chỉ ngồi được một mâm. Bà lão ngồi ngay bên cạnh cháu, tay run run khi sử dụng đũa. Nhìn mắt bà so đũa như vậy, ngứa mắt! Bà phó Thụ không thể nhịn được cười, để loạt đũa lên xuống.

  • No rồi thì ăn! Đừng cứ mời!

Bà lão vội vàng tiếp tục ăn. Nhưng các con đã ăn quá nhanh. Mọi người đều lặng lẽ, cúi đầu, mải mốt. Đôi đũa này lên, đôi đũa khác xuống. Liên tục như vậy. Tay bà lão run run, không biết lợi dụng lúc nào để gắp rau vào bát mắm. Lộn xộn quá, bà đánh rơi cả bát mắm ra ngoài. Bà phó Thụ lại cau mặt, căng:

  • Sẻ riêng cho bà một bát mắm, để gần mâm cho bà!

Một cô vội vàng thực hiện lời bà. Từ đó, bà lão dễ dàng hơn một chút. Nhưng bà vẫn cảm thấy đói. Còn cơm thì thôi ăn thì tốn tiếc. Vả đã đi ăn thực sự thì không còn danh giá gì để làm khách. Bà ăn như không biết gì. Mức đói thì càng thêm khó chịu. Vỉa hè không còn người. Ăn vội vàng để trốn đông. Không còn ai để trông thấy. Rồi con đói mãi không còn nữa. Lòng tự hỏi có phải là mình? Bà ăn như không biết gì. Phần cơm bị nắp kín và quanh nồi. Bà vẫn thèm. Bà cho vào nồi trong lòng, nhìn, và bảo cháu bé:

  • Còn mấy hột để khô đi. Tao chia cho mày ăn tiếp đi trước khi hết, chả nhẽ mất mãi, đĩ nhé?

  • Khô thì thôi! Bà ăn trọn cho đỡ bị đau bụng, đừng cho nó. Nó không ăn được nữa. Ăn cho nó nứt bụng ra thì ăn làm gì?

Bà phó Thụ quát to và nặng nề như thế. Bà phó đã dùng cái chết của bà để làm bài học cho tất cả con gái, con nuôi:

  • Hãy xem kỹ nghe! Ai đói đến đâu cũng không thể chết, nhưng có no một bữa là đủ chết. Các con hãy nhìn và học hỏi điều đó!

About The Author