Học kì 2 đã đến, và đây là thời điểm quan trọng để nhớ lại những tác phẩm văn học đã học. Từ những bài thơ lãng mạn đến những bài nghị luận truyền thống, mỗi tác phẩm đều mang đến những giá trị văn hóa và nghệ thuật độc đáo. Hãy cùng điểm lại những tác phẩm nổi bật mà chúng ta đã học trong học kì này.

Nhớ rừng (thơ mới)

Tác phẩm “Nhớ rừng” của Thế Lữ mang đến sự chân thực về tình yêu tự do và lòng yêu nước. Thông qua câu chuyện con hổ bị nhốt trong vườn bách thú, tác giả diễn tả sâu sắc nỗi chán ghét thực tại tầm thường và khao khát tự do mãnh liệt của nhà thơ. Bút pháp lãng mạn và tạo hình đặc sắc đã làm nên giá trị nghệ thuật của tác phẩm này.

Quê hương (Thơ mới)

Tác phẩm “Quê hương” của Tế Hanh là một bức tranh tươi sáng và sinh động về một làng quê miền biển. Được thể hiện qua hình ảnh khỏe khoắn và đầy sức sống của người dân chài và sinh hoạt làng chài, tác phẩm này thể hiện tình yêu và sự gắn bó với quê hương đầy thân thiết.

Khi con tu hú (Thơ cách mạng)

Tác phẩm “Khi con tu hú” của Tố Hữu diễn tả tình yêu cuộc sống và khát vọng tự do của người chiến sĩ cách mạng trẻ tuổi trong nhà tù. Với giọng thơ tha thiết và sôi nổi tưởng tượng phong phú, tác phẩm này đã trở thành một biểu tượng của tinh thần đấu tranh và hy vọng.

Tức cảnh Pác Bó (Thơ cách mạng)

“Tức cảnh Pác Bó” của Hồ Chí Minh là một tác phẩm với tinh thần lạc quan và phong thái ung dung. Tác giả tạo ra một bức tranh về cuộc sống cách mạng đầy gian khổ ở Pác Bó và nhấn mạnh rằng làm cách mạng và sống hòa hợp với thiên nhiên là một niềm vui lớn. Với giọng thơ hóm hỉnh, tươi vui, tác phẩm này đã kết hợp giữa cổ điển và hiện đại một cách khéo léo.

Ngắm trăng (Vọng Nguyệt; trích Nhật kí trong tù)

“Ngắm trăng” của Hồ Chí Minh thể hiện tình yêu thiên nhiên và tình yêu trăng đến say mê. Tác phẩm này cũng tạo được sự phong thái ung dung của Bác Hồ ngay trong cảnh tù ngục cực khổ, tối tăm. Với nhân hóa, điệp từ, câu hỏi tu từ và đối lập, tác phẩm này mang đến giá trị nghệ thuật đặc biệt.

Đi đường (Tẩu Lộ – trích Nhật kí trong tù)

“Đi đường” của Hồ Chí Minh mang ý nghĩa tượng trưng và triết lý sâu sắc. Tác phẩm nhấn mạnh rằng, từ việc đi đường núi, chúng ta có thể rút ra chân lý về đường đời. Tác giả khuyến khích chúng ta vượt qua gian lao chồng chất để đạt được thành công vẻ vang. Với điệp từ và tính đa nghĩa của hình ảnh, câu thơ, tác phẩm này đã mang đến một giá trị nghệ thuật đặc sắc.

Chiếu dời đô (Thiên đô chiếu) (1010)

“Chiếu dời đô” của Lí Công Uẩn (Lí Thái Tổ) phản ánh khát vọng về một đất nước độc lập và thống nhất. Tác phẩm cũng phản ánh ý chí tự cường của dân tộc Đại Việt đang trên đà lớn mạnh. Với kết câu chặt chẽ, lập luận giàu thuyết phục, tác phẩm này thể hiện tình – lí hài hòa: trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân.

Hịch tướng sĩ (Dụ chư tì tướng hịch văn) (1285)

“Hịch tướng sĩ” của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn là tác phẩm thể hiện tinh thần yêu nước nồng nàn của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến chống quân Mông – Nguyên xâm lược. Tác phẩm này cũng phê phán khuyết điểm của các tì tướng và khuyên bảo họ học tập binh thư, rèn quân chuẩn bị sát thát. Với áng văn chính luận xuất sắc, tác phẩm này đã mạnh mẽ và sâu sắc chạm đến lòng người.

Nước Đại Việt ta (trích Bình Ngô đại cáo) (1428)

“Nước Đại Việt ta” của Ức Trai Nguyễn Trãi là một bản tuyên ngôn độc lập của dân tộc. Tác phẩm này nhấn mạnh ý thức dân tộc và chủ quyền của đất nước. Nước ta có nền văn hiến lâu đời, có lãnh thổ riêng, có chủ quyền và có truyền thống lịch sử. Tác phẩm này mang giá trị nghệ thuật cao, với lập luận chặt chẽ, chứng cứ hùng hồn, ý tứ rõ ràng, và hàm súc.

Bàn luận về phép học (Luận học pháp) (1791)

“Bàn luận về phép học” của La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp thể hiện quan niệm tiến bộ về việc học tập và tác dụng của nó. Học là để trở thành người có đạo đức và tri thức, góp phần làm hưng thịnh đất nước. Tác phẩm này có lập luận chặt chẽ và luận cứ rõ ràng, nhấn mạnh vào quan điểm và phương pháp học tập đúng đắn.

Thuế máu (trích chương I, Bản án chế độ thực dân Pháp) (1925)

“Thuế máu” của Nguyễn Ái Quốc phản ánh sự tàn bạo của chế độ thực dân Pháp trong việc sử dụng người dân thuộc địa làm bia đỡ đạn trong cuộc chiến tranh phi nghĩa tàn khốc. Tác phẩm này sử dụng tư liệu phong phú và có tính chiến đấu cao. Bên cạnh đó, nghệ thuật trào phúng sắc sảo và hiện đại đã làm nổi bật tác phẩm này.

Đi bộ ngao du (Trích Ê – min hay về giáo dục) 1762

“Đi bộ ngao du” của J. Ru – xô mang đến ý nghĩa tư tưởng về việc đi bộ ngao du. Tác giả cho rằng đi bộ ngao du có nhiều lợi ích và thể hiện sự giản dị, tình yêu tự do và yêu thiên nhiên của người viết. Sử dụng đại từ xưng hô “ta-tôi” và gắn kết nội dung với trải nghiệm cá nhân, tác phẩm này mang tính chất khái quát và trải nghiệm thực tế.

Ông Giuốc – Đanh mặc lễ phục (trích Trưởng giả học làm sang)

“Ông Giuốc – Đanh mặc lễ phục” là một vở kịch trong vở “Trưởng giả học làm sang” của Mô-li-e. Tác phẩm này tạo ra một bức tranh sinh động về tay trưởng giả muốn học đòi làm sang. Tác phẩm này đã gây tiếng cười sảng khoái cho khán giả và khắc họa tính cách lố lăng của nhân vật thông qua lời nói và hành động.

So sánh nghệ luận trung đại và nghị luận hiện đại

Trong văn học, chúng ta có thể thấy sự khác biệt giữa nghệ luận trung đại và nghị luận hiện đại. Nghệ luận trung đại thường không phân biệt rõ ràng giữa văn sử triết và khuôn vào những thể loại riêng như chiếu, hịch, cáo, tấu. Nó còn in đậm thế giới quan của con người trung đại, tư tưởng mệnh trời, thần-chủ và tâm lí sùng cổ.

Trong khi đó, nghị luận hiện đại sử dụng trong nhiều thể loại văn xuôi như tiểu thuyết luận đề, phóng sự – chính luận, tuyên ngôn. Cách viết trong nghị luận hiện đại giản dị, câu văn gắn lời nói thường và gắn với đời sống thực.

Đây chỉ là một số tác phẩm mà chúng ta đã học trong học kì này. Hy vọng rằng những đề cương này sẽ giúp các em ôn tập tốt cho kỳ thi sắp tới. Chúc các em thành công!

About The Author