Bếp xưa giữa chốn đô thành

Ở quê ngày xưa, mọi nhà đều có một căn bếp giống nhau. Căn bếp thường có hai phòng chính. Một phòng để nấu ăn, có thể là bếp ba chân hoặc bếp dài, dùng để chuẩn bị bữa ăn hàng ngày. Phòng còn lại để cất giữ đồ dùng như bát đĩa, mắm muối hay nồi chảo, và những vật dụng khác.

Bếp thường được xây vuông góc với nhà chính. Nó được xây thấp hơn nhà. Từ nhà lên bếp, phải bước qua hai bậc cầu thang. Bên trong bếp đầy rơm. Ở làng tôi, mọi nhà đều có đống rơm lớn. Rơm khô cháy đượm. Rơm được dùng để đốt cả năm. Trong những ngày mưa dầm, gió bấc, rơm ẩm, khói trải dài khắp vùng quê.

Ngoài việc đốt rơm, người ta còn dùng củi khô hoặc vỏ chuối, vỏ ngô, thậm chí cả mo nang để nấu ăn. Nhà tôi dùng bếp dài ba ngăn. Đôi khi, mẹ tôi nấu cơm, đun nước bằng rơm nhưng kho cá bằng bếp củi. Mẹ nói, kho cá phải nấu kỹ mới ngon. Bếp củi cần ít tro, lửa cháy nhẹ nhàng mới thích hợp. Rơm cháy đượm nhưng nhanh tàn, không đủ nhiệt để nấu chín.

Bếp xưa thường tối hơn bây giờ. Một phần là do người ta chỉ dùng đèn nhỏ hoặc đèn dầu dưới bếp, phần còn lại là do bếp dùng lâu sẽ bám bồ hóng. Bồ hóng là một lớp mạng nhện màu đen bám trên trần bếp và mái ngói, nên thỉnh thoảng khi ngồi đun bếp, lũ trẻ con chúng tôi bị bồ hóng rơi trúng đầu…

Có lẽ, hình ảnh căn bếp xưa sẽ dần bị lãng quên theo thời gian, theo sự công nghiệp hóa khi bếp ngày nay đã được thay thế bằng những thiết bị tiện nghi, hiện đại. Hoặc ít nhất, muốn ngắm lại căn bếp xưa, chúng ta chỉ có thể tìm về vùng nông thôn, có khi mới được hoài niệm về một thời xa xưa. Nhưng một buổi chiều tháng 10 cuối thu, tiết trời se lạnh, tôi đã có dịp gặp lại hình ảnh về căn bếp thân thương, ngay tại thành phố nhộn nhịp.

Đó là hình ảnh của ngôi nhà Việt được tái hiện trong khuôn viên Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam – nơi lưu giữ những giá trị văn hóa của các dân tộc trên cả nước. Cảnh quen thuộc ấy, với bếp ba chân, bếp dài, nồi gang, ấm đất, xoong nhôm và kệ bếp chứa đủ những vật dụng quen thuộc ngày xưa, tất cả như hình vẽ trước mắt tôi, một “bầu trời” kỷ niệm…

Ký ức không bao giờ quên

Lúc còn nhỏ, mỗi khi trở về từ trường học, tôi luôn nhìn vào bếp xem đã “đỏ lửa” chưa. Bếp “đỏ lửa”, có mùi khói thơm trong gió, tức là mẹ tôi đã về. Mẹ đang chuẩn bị bữa trưa và chúng tôi không lo bị đói. Sau này, mẹ tôi dạy tôi nấu cơm bằng bếp rơm, không ít lần, khi dùng đũa cả ghế ăn cơm, tôi để tro bếp quấn vào nước gạo đang sôi.

Mẹ nói: “Con gái ơi, sau này khi trưởng thành là phụ nữ, căn bếp sẽ là nơi giữ lửa cho gia đình. Vì thế, con phải học từng bước một, không chỉ học nấu ăn mà còn học cách giữ gìn quan hệ gia đình, đặc biệt là quan hệ vợ chồng. Giống như khi nấu cơm, ban đầu cần lửa đỏ để nhanh chóng sôi cơm, không bị sượng, nhưng khi cơm chín, chỉ cần lửa âm ỉ, giữ nhiệt là đủ. Con phải biết làm thế nào để cơm thật chín, không bị sượng, nhưng cũng không bị cháy quá nhiều”.

Từ đó, tôi mới biết nấu cơm ngon là một quá trình. Và sau bao năm, những bát cơm nấu từ nồi gang, bếp rơm, bếp củi ngày xưa vẫn cất giữ hương vị đặc trưng mà giờ đây muốn tìm lại, không phải điều dễ dàng.

Trong những ngày đông rét, khi tan học, tôi đẩy chiếc xe đạp cũ ra sân và sau đó chạy vào bếp. Ngồi gần lửa và cảm nhận hơi ấm từ ngọn lửa thơm mùi rơm gợi lại niềm vui của đứa trẻ tôi. Có những mùa đông khi cấy vụ đông – xuân đến, và trời thật lạnh. Lạnh từ chân lội bùn lên đến gió thổi qua áo, xuyên qua da. Lạnh tới xanh tóp da, nhưng chỉ cần về nhà, trốn vào bếp, đốt ngọn lửa rơm sáng sủa, cơ thể trở nên “sống dậy”. Có lúc ngồi bếp quá nhiều, da mặt, da chân và tay khô nứt nhưng dù sao, khi lạnh, tôi vẫn chui vào bếp.

Vào những ngày không đi học, lũ trẻ con tôi thích nhất là ngồi bên bếp để sưởi ấm. Không chỉ vậy, ngồi bếp còn có thú vui khác là nướng đồ ăn. Chúng tôi nướng bất cứ thứ gì tìm thấy trong nhà. Lúc là khoai lang, lúc là bắp ngô, lúc là củ sắn, lúc là củ lạc. Người lớn dạy, không nên nướng khoai khi đun rơm vì tro rơm cháy nhanh, nhanh chóng chín mà phải nướng bằng than củi. Nếu than cháy đỏ, chỉ cần một ít phút là có đồ ăn. Trước khi nướng khoai, cần lột vỏ, cắt đôi và nhẹ nhàng hít hà hương thơm từ khoai nướng, rồi đưa vào miệng. Đối với chúng tôi, đó là một trò vui thú “tao nhã”. Những khi quên và khoai cháy, miệng ai cũng bị đen bởi… phải ăn khoai cháy.

Nơi đong đầy yêu thương

Đun bếp rơm, bếp củi, xoong nồi, chảo đều trở nên đen dưới đáy. Từ đó, trẻ con trong xóm tôi có trò chơi “trốn tìm” quệt nhọ nồi. Khi trò chơi kết thúc, tất cả mặt đều đen như than. Nhưng vẫn vui. Cũng vì nồi đen mà người lớn đã chế tạo chiếc rế mây, rế tre để lót nồi khi lấy lên chiếu, lên phản ngồi ăn cơm. Tôi nhớ có lần tôi lấy chiếc rế đặt lên bếp để đun. Kết quả, mẹ tôi bị mất đi chiếc rế.

Vào những ngày gần Tết, cuộc sống trở nên hối hả hơn bao giờ hết. Ở quê tôi, mọi người thường mổ lợn và chia phần thịt nhau trước Tết. Mỗi nhà mang chậu, rổ đến cân và lấy phần thịt của mình về chia ra làm các món. Căn bếp từ đó trở thành nơi sôi động, người ra vào.

Người quê tôi có món thịt lợn nấu đông và chỉ nấu trong dịp Tết. Để làm món này, mẹ tôi ướp mắm muối vào thịt, thêm mộc nhĩ thái nhỏ để thơm, rồi đổ nước bắc đầy vào nồi ninh. Đun cho đến khi thịt mềm, nước dùng sền sệt, sau đó để nguội ở ngoài trời lạnh. Món này muốn ngon, ngoài việc chọn thịt đúng cách và đun lửa phù hợp, quan trọng nhất là phải nấu vào khi trời rét, càng rét, nồi đông càng ngon. Những năm nấu đông vào khi trời ấm là năm bị hỏng và dĩ nhiên, trên bàn ăn ngày Tết sẽ thiếu đi một món gì đó.

Bên cạnh món thịt đông, đêm 29 Tết, xung quanh nồi bánh chưng là những phên cá, phên thịt mà cha tôi dựng lên. Tôi luôn đồng ý trực gác trên tầm rơm trong bếp để đảm bảo mèo không cào trộm cá và thịt trong phên. Đối với những người sống ở thành phố, chẳng thể tưởng tượng được chiếc tầm rơm của người quê như thế nào. Nó được làm từ một lớp rơm dày đặt ở góc bếp, cao khoảng 7-10 cm và được trải chiếu lên trên. Những nhà không có chiếu, họ sẽ trải một tấm bạt mỏng.

Nằm trên tầm rơm, cuộn tròn trong cái chăn ấm bên nồi bánh chưng sôi sung sục, với mùi cá, mùi thịt nướng thoang thoảng, tôi từ khi nào không biết đã chìm vào giấc ngủ. Chính nơi đây đã truyền đạt yêu thương, nuôi dưỡng tâm hồn non trẻ chúng tôi mãi mãi…

About The Author