Khi nào bạn sẽ tựu trường và được mẹ khen?

1. Nội dung học câu phân loại theo mục đích nó

Bài học về câu phân loại theo mục đích nó được dạy ở lớp 4, với tổng cộng 20 tiết học. Các bài học về câu phân loại theo mục đích nói có thể được phân chia như sau:

a) Loại bài hình thành kiến thức mới về các kiểu câu phân loại theo mục đích nói bao gồm 5 bài: Câu hỏi và dấu chấm hỏi, Câu kể, Câu khiến, Cách đặt câu khiến, Câu cảm.

b) Loại bài hình thành kiến thức về cấu tạo câu kể bao gồm 9 bài: Câu kể Ai làm gì?, Vị ngữ trong câu kể Ai làm gì?, Chủ ngữ trong câu kể Ai làm gì?, Câu kể Ai thế nào?, Vị ngữ trong câu kể Ai thế nào?, Chủ ngữ trong câu kể Ai thế nào?, Câu kể Ai là gì?, Vị ngữ trong câu kể Ai là gì?, Chủ ngữ trong câu kể Ai là gì?

c) Loại bài hình thành kiến thức về việc sử dụng câu phân loại theo mục đích nói bao gồm 3 bài: Giữ phép lịch sự khi đặt câu hỏi, Dùng câu hỏi vào mục đích khác, Giữ phép lịch sự khi bày tỏ yêu cầu và đề nghị.

d) Loại bài luyện tập thực hành về các nội dung trên bao gồm 3 bài: Luyện tập về câu hỏi, Luyện tập về câu kể Ai làm gì?, Luyện tập về câu kể Ai là gì?

1.2. Một số nhận xét

a) Chương trình dạy giúp học sinh nắm vững kiến thức cơ bản về các kiểu câu hỏi, kể, khiến, cảm chính danh và đồng thời đảm bảo tính nhất quán về hình thức giữa các bài học. Ví dụ: “Câu hỏi được sử dụng để hỏi về những điều chưa biết… thường có các từ nghi vấn (ai, sao, nào, gì, không…). Khi viết cuối câu hỏi có dấu chấm hỏi (?).” (Tiếng Việt 4, Tập 1, trang 131). Hoặc “Câu khiến được sử dụng để nêu yêu cầu, đề nghị, mong muốn của người nói, người viết với người khác. Khi viết, cuối câu khiến có dấu chấm than (!) hoặc dấu chấm.” (Tiếng Việt 4, Tập 2, trang 88); “Muốn đặt câu khiến, có thể dùng một trong những cách sau: 1. Thêm các từ hãy, đừng, chớ, nên, phải… vào trước động từ. 2. Thêm các từ lên, đi, thôi, nào… vào cuối câu. 3. Thêm các từ đề nghị, xin, mong…. vào đầu câu. 4. Dùng giọng điệu phù hợp với câu khiến.” (Tiếng Việt 4, Tập 2, trang 92). Nội dung này được minh họa trong các bài học như: Câu hỏi và dấu chấm hỏi (Tuần 13), Câu kể (Tuần 16), Câu khiến (Tuần 27), Cách đặt câu khiến (Tuần 27) và Câu cảm (Tuần 30).

b) Qua kiểu câu kể, sách giáo trình đã tạo ra cơ hội củng cố kỹ năng sử dụng các kiểu câu Ai làm gì?, Ai thế nào?, Ai là gì? mà học sinh đã được cung cấp mẫu và luyện tập thực hành ở lớp 2 và 3. Đồng thời, cũng giúp học sinh hiểu về vị ngữ, chủ ngữ và cấu trúc của câu. Nội dung này được thể hiện trong các bài: Câu kể Ai làm gì? (Tuần 17), Vị ngữ trong câu kể Ai làm gì? (Tuần 17), Chủ ngữ trong câu kể Ai làm gì? (Tuần 19), Câu kể Ai thế nào? (Tuần 21), Vị ngữ trong câu kể Ai thế nào? (Tuần 21), Chủ ngữ trong câu kể Ai thế nào? (Tuần 22), Câu kể Ai là gì? (Tuần 24), Vị ngữ trong câu kể Ai là gì? (Tuần 24), Chủ ngữ trong câu kể Ai là gì? (Tuần 25).

c) Chương trình còn đề cập đến các hành vi ngôn ngữ gián tiếp thông qua việc dạy cho học sinh cách sử dụng các kiểu câu này vào mục đích nói khác. Bài Dùng câu hỏi vào mục đích khác (Tuần 14) đã dạy cho học sinh: “Nhiều khi, ta có thể dùng câu hỏi để thể hiện: 1. Thái độ khen chê. 2. Sự khẳng định, phủ định. 3. Yêu cầu, mong muốn…” (Tiếng Việt 4, Tập 1, trang 142).

d) Chương trình giáo dục cũng chú trọng rèn luyện cách giữ phép lịch sự khi giao tiếp và hướng dẫn học sinh sử dụng các phương tiện hình thức để tạo tính lịch sự trong giao tiếp. Đó là nội dung của các bài: Giữ phép lịch sự khi đặt câu hỏi (Tuần 15), Giữ phép lịch sự khi bày tỏ yêu cầu và đề nghị (Tuần 29).

Phương pháp giảng dạy các kiểu câu phân loại theo mục đích nói

2.1. Phương pháp hình thành kiến thức về câu phân loại theo mục đích nói

Phương pháp giảng dạy kiến thức về câu phân loại theo mục đích nói không có gì khác so với phương pháp giảng dạy kiến thức mới nói chung. Tuy nhiên, trong quá trình giảng dạy, giáo viên luôn phải lưu ý đặc điểm của các kiểu câu chia theo mục đích nói.

Với bước 1, hướng dẫn học sinh phân tích ngữ liệu, giáo viên cần lưu ý rằng ngữ liệu của các bài học về câu phân loại theo mục đích nói luôn phải đặt trong ngữ cảnh. Bởi vì đây là các kiểu câu được nghiên cứu từ góc độ sử dụng. Ví dụ: ở bài Câu hỏi và dấu chấm hỏi. Nếu không yêu cầu học sinh phân tích hai câu hỏi “Vì sao quả bóng không có cánh mà vẫn bay được?” và “Cậu làm thế nào mà mua được nhiều sách và dụng cụ thí nghiệm như thế?” trong ngữ cảnh cụ thể là bài Tập đọc Người tìm đường lên các vì sao, thì học sinh không thể xác định được mỗi câu hỏi là của ai, dùng để hỏi ai. Đặc biệt, trong các bài học về cách sử dụng câu hỏi vào mục đích nói khác và cách giữ phép lịch sự, việc đặt các câu trong cặp đối thoại cụ thể mới hiểu đúng ý nghĩa mà chúng biểu đạt. Ví dụ: nếu xét một mình “Sao chú mày nhát thế?” thì học sinh chỉ nhận ra đây là câu hỏi hỏi về nguyên nhân. Đặt câu trong đoạn đối thoại cụ thể học sinh sẽ nhận ra mục đích nói của nó là chê bai.

Với bước 2, hướng dẫn học sinh trình bày kiến thức cần ghi nhớ, giáo viên có thể sử dụng một số câu hỏi, bài tập thuộc ba loại như nói, viết và điền tiếp câu để giúp học sinh có khả năng tư duy chủ động, mạch lạc đồng thời rèn khả năng diễn đạt nói, viết.

Với bước 3, hướng dẫn học sinh củng cố, khắc sâu kiến thức đã học, giáo viên cũng sử dụng các bài tập nhận diện của sách giáo trình. Tuy nhiên, đặc trưng riêng của các bài tập nhận diện về câu phân loại theo mục đích nói là không chỉ yêu cầu nhận diện kiểu câu, dấu hiệu hình thức của câu mà chủ yếu là nhận diện mục đích nói, nhận diện tình huống lời nói. Ví dụ: bài tập 1, mục Luyện tập, bài Dùng câu hỏi vào mục đích khác: Các câu hỏi sau đây được dùng để làm gì?
a) Cuối cùng, nàng quay lại bảo thị nữ: “Hãy gọi người hàng hành vào cho ta!”
b) Một anh chiến sĩ đến nâng con cá lên hai bàn tay nói nựng: “Có đau không chú mình? Lần sau, khi nhảy múa phải chú ý nhé! Đừng có nhảy lên boong tàu!” (…)
2. Tìm ba câu khiến trong SGK Tiếng Việt hoặc Toán của em. (Tiếng Việt 4, Tập 2, trang 88)
Với các bài tập này, giáo viên hướng dẫn học sinh căn cứ vào ngữ cảnh để suy ý, từ ý nghĩa bề mặt của câu và ngữ cảnh để suy ra ý nghĩa thực của câu. Ví dụ, câu hỏi “Có nín đi không?” đặt trong tình huống “Dỗ mãi mà em bé vẫn khóc” và câu nói sau đó là “Các chị cười cho đây này” học sinh sẽ suy ra ý nghĩa là yêu cầu. Mặc dù, nếu căn cứ vào hình thức thì đây là câu hỏi.

Với bước 4, hướng dẫn học sinh vận dụng kiến thức đã học, đặc trưng của việc dạy các kiểu câu phân loại theo mục đích nói là phải dạy cho học sinh sử dụng các kiểu câu vào tình huống lời nói cụ thể. Loại bài tập đặc trưng của phần này là bài tập tình huống lời nói. Giáo viên nên tạo điều kiện cho học sinh thực hành theo các yêu cầu của bài tập một cách tự nhiên, để học sinh có điều kiện ứng dụng tri thức vào giao tiếp một cách hiệu quả.

About The Author