Phân tích đoạn thơ sau trong bài Tiếng hát con tàu - Chế Lan Viên: "Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ... Nhưng trọn đời con nhớ mãi ơn nuôi."

Trong cuộc đời của một thi sĩ lãng mạn tiểu tư sản, việc được trở về với nhân dân và đất nước sau thời kỳ cô đơn và bế tắc trước cách mạng là niềm khát khao lớn lao và hạnh phúc vô cùng. Chế Lan Viên đã viết một đoạn thơ chân thực, xúc động và cuốn hút để diễn đạt niềm hạnh phúc đó:

Con gặp lại… mãi ơn nuôi

Đoạn thơ trên được trích từ bài Tiếng hát con tàu, một bài thơ chín nhất của Chế Lan Viên, từ tập Ánh sáng và phù sa, được sáng tác vào năm 1960.

Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ

Chế Lan Viên được biết đến như một nhà thơ lãng mạn, ưa trang sức và biết trang điểm. Vì vậy, ông thường sử dụng những hình ảnh mới lạ, độc đáo và lấp lánh để thể hiện tài hoa sáng tạo và cảm xúc trong thơ ca. Chính những hình ảnh này đã giúp ông tạo nên những chuỗi hình ảnh tuy đơn giản nhưng đầy sức mạnh như những pháo hoa rực sáng trên bầu trời của thơ:

Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ

Cỏ đón giếng hai, chim én gặp mùa

Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa

Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa

Những hình ảnh so sánh này nhằm tạo ra cảm xúc và khám phá ý nghĩa sự trở về với nhân dân, cội nguồn sáng tạo nghệ thuật thơ ca. Chúng lấy cảm hứng từ cuộc sống tự nhiên và con người, mang lại cảm giác gần gũi, giản dị và đẹp đẽ. Trở về với nhân dân cũng đồng nghĩa với việc trở về với những giá trị và quy luật cuộc sống tự nhiên.

Trước hết, trở về với nhân dân có nghĩa là quay trở về môi trường quen thuộc, nơi sinh sống và nảy sinh sự sống. Nó cũng là nguồn cảm hứng cho sáng tạo nghệ thuật thơ ca. Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ. Tại sao lại là nai mà không phải là con vật khác trong rừng sâu? Nai là một con vật hiền dịu, xinh đẹp, hồn nhiên và đáng yêu. Thông qua việc sử dụng hình ảnh nai, Chế Lan Viên muốn diễn đạt sự hiền hậu, ngây thơ và đáng yêu. Trong thơ Lưu Trọng Lư, nai là chú Nai vàng ngơ ngác lạc giữa rừng thu. Còn trong thơ Huy Cận, nai chìm lẫn trong sương mù. Chỉ riêng trong thơ Xuân Diệu, nai trở nên đáng thương. Nhưng với Chế Lan Viên, nai đã trở thành chú nai tơ vững chãi và kiêu hãnh, tự do chạy nhảy trong cuộc sống nhân dân như con nước chảy trong dòng suối quen thuộc.

Trở về với nhân dân cũng đồng nghĩa với trở về với niềm vui và hạnh phúc mà chúng ta khao khát: cỏ đón giếng hai, chim én gặp mùa. Sau mùa hè nắng cháy, mưa xối xả của mùa thu và cái lạnh của mùa đông, cỏ đã tàn lụi. Nhưng khi gặp giếng hai và những cơn mưa xuân, cỏ bật dậy, non tươi mơn mởn. Chế Lan Viên muốn tạo ra hình ảnh về sức sống và hy vọng khi cỏ xanh tươi gợn đến trời. Đây cũng là ý nghĩa mà Hàn Mặc Tử và Nguyễn Du đã ca ngợi trong thơ của họ.

Trở về với nhân dân cũng có nghĩa là trở về với nguồn sống và sự nuôi dưỡng. Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa – Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa. Sữa là nguồn dinh dưỡng, nguồn sống cơ bản giúp đứa trẻ phát triển và lớn khôn. Cánh tay đưa nôi giúp đứa trẻ ngủ ngon, phát triển nhanh hơn cùng với sữa ngọt ngào. Hình ảnh này gợi nhớ đến những em bé trong truyện cổ tích được cứu sống và trở thành anh hùng sau khi gặp bàn tay nhân hậu của những ông bụt, bà tiên. Chính những người như thế đã tái tạo cuộc sống và mang lại hy vọng cho Chế Lan Viên sau những khoảnh khắc đau khổ.

Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa

Trở về với nhân dân cũng đồng nghĩa với trở về với niềm vui và hạnh phúc mà chúng ta hằng mong đợi: “Việt Nam ôi Tổ quốc thương yêu! Trong khổ đau, Người đẹp hơn nhiều. Như bà mẹ sớm chiều gánh nặng, Nhẫn nại nuôi con, suốt đời im lặng. Biết hy sinh nên chẳng nhiều lời.”

Những bà mẹ bình thường, nhưng vĩ đại, đã dành cả tâm huyết để chăm sóc con cái và hy sinh không tiếc nuối cho đồng đội. Những bà cụ từ tâm làm mẹ, yêu con như đẻ. Hình ảnh này tạo nên một bức tranh tuy nhỏ bé nhưng đầy ý nghĩa về lòng hiếu thảo và tình yêu của mẹ. Đó cũng là nguồn gốc của mọi sức mạnh Việt Nam.

Đoạn thơ này cũng đề cao sự hy sinh của những người bình thường, nhưng vĩ đại, như anh em liên lạc, người anh du kích. Hình ảnh của họ đã được thể hiện một cách tinh tế và sáng tạo trong những kỷ niệm sâu sắc về những năm kháng chiến. Đó là sự trung thực và giàu ý nghĩa của Chế Lan Viên trong tạo hình ảnh và sáng tác thơ ca.

Đoạn thơ này là một trong những đoạn thơ hay và tiêu biểu nhất của bài Tiếng hát con tàu. Sử dụng những hình ảnh độc đáo và gợi cảm, Chế Lan Viên đã diễn đạt tình cảm chân thành và niềm biết ơn sâu sắc đối với nhân dân, nguồn cảm hứng sáng tạo nghệ thuật thơ ca. Đoạn thơ này viết về một vấn đề chính trị nhưng lại toát lên sự thân thiện và đầy tình cảm. Đây là tiếng lòng của một thi sĩ đã từng được Đảng và nhân dân cứu vớt từ những thung lũng đau thương đến cánh đồng vui.

About The Author