Ý nghĩa của nhan đề “Tự tình”

Em hiểu gì về nhãn đề bài thơ "Tự tình"

Ý nghĩa nhan đề “Tự tình”

“Nhan đề “Tự tình” có ý nghĩa là bộc lộ tâm tình, cảm xúc. Hồ Xuân Hương đã dũng cảm đối diện với chính mình để tự thấu hiểu, tự thương xót cho bản thân. Không chỉ có chùm ba bài thơ “Tự tình”, Hồ Xuân Hương còn viết nhiều bài thơ khác để bộc lộ cảm xúc, tâm trạng của người phụ nữ trước hoàn cảnh éo le, đau buồn. Vì sao thế nhỉ?”

Cho đến nay, vẫn còn tồn tại nhiều thắc mắc về cuộc đời của Hồ Xuân Hương, bởi không có tài liệu gốc nào để lại. Người ta nói bà sinh ra ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Cha ruột của bà là cụ Hồ Phi Diễn, một thầy đồ nghèo, mẹ Xuân Hương là mẹ kế. Hồ Xuân Hương lớn lên chủ yếu ở kinh đô Thăng Long.

Bà thông minh, sắc sảo nhưng duyên tình trớ trêu, đời sống đầy bất hạnh. Hồ Xuân Hương đã kết hôn hai lần, cả hai lần đều không được viên mãn (với Tổng Cóc và Phủ Vĩnh Tường). Đáng thương hơn, cả hai lần bà đều đau khổ khi ly thân khỏi niềm hạnh phúc ngắn ngủi khi tình yêu vẫn còn rực cháy.

Hai lần làm lẽ, hai lần ly thân, những tâm sự chứa đựng trong lòng bà chỉ có thể được gửi vào thơ. Cả ba bài thơ “Tự tình” đều thể hiện lòng đau buồn, phẫn uất của người phụ nữ khi tình duyên không trọn vẹn.

Chùm thơ Tự tình

Bài thơ Tự tình 1

“Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom,
Oán hận trông ra khắp mọi chòm.
Mõ thảm không khua mà cũng cốc,
Chuông sầu chẳng đánh cớ sao om.
Trước nghe những tiếng thêm rầu rĩ,
Sau giận vì duyên để mõm mòm.
Tài tử văn nhân ai đó tá?
Thân này đâu đã chịu già tom!”

Bài thơ “Tự tình 1”: Bài thơ này bộc lộ tâm trạng cô đơn, thảm sầu, oán hận của Hồ Xuân Hương khi nghĩ về những duyên phận gian trái, ngang trái của mình. Tuy nhiên, cuối cùng, bà vẫn vươn lên hơn tất cả, trở lại với bản lĩnh của mình – Xuân Hương không chịu thua, đối đầu với cuộc sống. Qua bài thơ này, người đọc không chỉ cảm nhận được tâm trạng, hoàn cảnh đáng thương của Hồ Xuân Hương mà còn thấy được khát vọng mãnh liệt của bà về hạnh phúc.

Bài thơ Tự tình 2

“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn,
Trơ cái hồng nhan với nước non.
Chén rượu hương đưa say lại tỉnh,
Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn,
Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám.
Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.
Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại,
Mảnh tình san sẻ tí con con!”

Bài thơ “Tự tình 2”: Bài thơ này thể hiện tâm trạng, thái độ của Hồ Xuân Hương: Vừa đau buồn, vừa phẫn uất trước duyên phận, cố gắng vươn lên nhưng vẫn rơi vào bi kịch. Bài thơ cho thấy khát vọng sống và hạnh phúc mãnh liệt của người phụ nữ thuộc họ Hồ.

Bài thơ Tự tình 3

“Chiếc bánh buồn vì phận nổi lênh,
Giữa dòng ngao ngán nỗi lênh đênh.
Lưng khoang tình nghĩa dường lai láng,
Nửa mạn phong ba luống bập bềnh.
Cầm lái mặc ai lăm đỗ bến,
Giong lèo thây kẻ rắp xuôi ghềnh.
Ấy ai thăm ván cam lòng vậy,
Ngán nỗi ôm đàn những tấp tênh.”

Nội dung bài thơ “Tự tình 3”: Qua hình ảnh ẩn dụ “chiếc bánh”, bài thơ bộc lộ nỗi niềm chua xót của Hồ Xuân Hương về duyên phận: Bấp bênh, không định, đầy hiểm nguy. Qua bài thơ này, người đọc càng hiểu rõ hơn khát vọng sống và hạnh phúc trọn vẹn của nữ sĩ.

Ba bài thơ “Tự tình” của Hồ Xuân Hương có thể coi là ba bài thơ than thân, trách phận, trách duyên tình hẩm hiu, ngang trái. Cả ba bài thơ đều ẩn chứa cảm xúc và tâm trạng chân thành của người phụ nữ. Và cả ba bài thơ đều khiến người đọc cảm nhận được sự chân thành, khát vọng sống và khát vọng hạnh phúc mãnh liệt của nữ sĩ Xuân Hương.

Nhận định về thơ Hồ Xuân Hương

“Trong tâm thức của người Việt Nam, Hồ Xuân Hương là nhà thơ vô cùng độc đáo. Độc đáo về nội dung. Độc đáo về thủ pháp nghệ thuật. Xứng danh là “bà chúa” của thơ Nôm, từ đề tài đến hình ảnh, sắc màu, thơ Hồ Xuân Hương luôn sống động, gai góc, và hoang dại. Khác xa với sự thuần túy của văn chương đương thời. Không giống như Bà Huyện Thanh Quan với sự quý phái, trữ tình; không giống như Nguyễn Du với sự trầm mặc và đau đáu của đoạn trường; thơ Nôm Hồ Xuân Hương chỉ có thể sánh ngang với lời ăn tiếng nói của dân gian.

Như đỉnh cao phong vị giữa các thi sĩ dân tộc thời cuối thế kỉ XVIII và đầu thế kỉ XIX, thơ Nôm Hồ Xuân Hương truyền cảm hứng một cách sống động, trực quan, khám phá khả năng của ngôn ngữ dân tộc sắc sảo và phức tạp. Như một cuộc “đổi mới” đầy ấn tượng, Hồ Xuân Hương đã mang đến thể thơ Đường một luồng “rượu mới” về cả chất lượng và độ táo bạo của ngôn ngữ dân gian… đã tràn vào thơ như một dòng chảy đã lâu, một dòng có sức mạnh quan trọng trên tinh thần văn chương. Nó tràn vào, nhảy vào và chiếm lĩnh mà không cần sự chuẩn bị hay thử nghiệm.” (Đào Thái Tôn)

“Dù vẫn còn những băn khoăn khi nghiên cứu và tìm hiểu về thơ của Hồ Xuân Hương, chúng ta vẫn có thể khẳng định: Hồ Xuân Hương là một hiện tượng văn học độc đáo ở nhiều phương diện, xứng đáng với sự tôn vinh của thi sĩ Xuân Diệu “bà chúa thơ Nôm”.”

About The Author