Câu cầu khiến là một phần trong chương trình môn ngữ văn lớp 8. Để giúp các em hiểu rõ về câu cầu khiến, VnDoc sẽ giới thiệu về khái niệm, đặc điểm và chức năng của câu cầu khiến. Mời các em theo dõi bài viết dưới đây.

1. Khái niệm câu cầu khiến

Theo sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 8, câu cầu khiến là những câu mà trong đó chứa các từ cầu khiến, như “hãy”, “đừng”, “chớ”, “đi”, “thôi”, “nào”… hoặc có ngữ điệu cần cầu khiến. Câu cầu khiến được sử dụng để ra lệnh, yêu cầu, đề nghị, khuyên bảo…

2. Đặc điểm câu cầu khiến

  • Câu cầu khiến thường chứa các từ mang tính chất điều khiển, ra lệnh, yêu cầu như “thôi”, “đừng lo lắng”, “cứ về đi”…
  • Hai câu giống nhau về hình thức nhưng khác nhau về nội dung, ngữ điệu đọc cũng khác nhau.

Ví dụ:
a. Nãy anh Tuấn gọi bạn làm gì vậy?

  • Mở cửa.
    “Mở cửa” ở đây là câu trả lời câu hỏi.

b. Đang ngồi viết thư, tôi bỗng nghe tiếng ai đó vọng vào:

  • Mở cửa!
    “Mở cửa” ở đây là câu cầu khiến dùng để ra lệnh, đề nghị.

3. Dấu hiệu nhận biết câu cầu khiến

Có một số dấu hiệu để nhận biết một câu có phải là câu cầu khiến hay không, bao gồm:

  • Có các từ cầu khiến như “thôi”, “hãy”, “đừng”, “chớ”, “đi”, “thôi”, “nào”, “đi thôi”, “thôi đừng”, “thôi nào”…
  • Kết thúc câu bằng dấu chấm than hoặc dấu chấm và có ý nghĩa ra lệnh, khuyên bảo hoặc đề nghị.

Ví dụ:

  • Hãy im lặng đi!
  • Thôi đừng ngủ nữa. Dậy đi chơi với tớ đi!

Nếu câu có ý nghĩa sai bảo, lời mệnh lệnh, một lời khuyên, một lời đề nghị thì đó cũng có thể là câu cảm thán.

4. Ví dụ về câu cầu khiến

Với loại câu này, các ví dụ rất đơn giản và thường xuất hiện trong giao tiếp hàng ngày khi ra lệnh, khuyên bảo, đề nghị ai đó.

Ví dụ:

  • Hãy mở cửa sổ ra cho thoáng nào!
  • Đừng nên hút thuốc, nó có hại cho sức khỏe.
  • Thôi đừng quá lo lắng, việc đâu còn có đó.

Câu cầu khiến là một phần không thể thiếu trong giao tiếp hàng ngày và có nhiều ứng dụng khác nhau.

5. Tác dụng câu cầu khiến (có ví dụ minh họa)

Câu cầu khiến có thể có các tác dụng khác nhau tùy thuộc vào ngữ điệu, vai vế và mục đích của cuộc hội thoại.

  • Câu cầu khiến có tác dụng ra lệnh: được sử dụng để ra lệnh cho người nhỏ tuổi hơn mình hoặc có địa vị thấp hơn.

Ví dụ:

  • Nhiệm vụ của bạn là hoàn thành công việc này trước cuộc họp tuần sau!

  • Em hãy mang bài đã làm lên bàn của tôi!

  • Hãy mở cửa khi khách bước vào!

  • Câu cầu khiến có tác dụng đề nghị, yêu cầu: bạn có thể yêu cầu, đề nghị ai đó thực hiện theo ý mình, tác dụng yêu cầu có mức độ nhẹ hơn đề nghị và có thể áp dụng với bạn bè, đồng nghiệp.

Ví dụ:

  • Cậu hãy trả vở cho tớ vào ngày mai nhé!

  • Chị lấy hộ em tập hồ sơ với ạ!

  • Cậu cất hộ tớ hộp bút vào cặp với nhé!

  • Câu cầu khiến có tác dụng như một lời khuyên: nếu đó là những mối quan hệ thân thiết như anh em, bạn bè thì chúng ta có thể dùng câu cầu khiến để khuyên bảo người khác.

Ví dụ:

  • Đừng tự trách bản thân nữa! Con đã làm hết sức rồi mà.
  • Hãy nhớ ăn cơm đúng giờ nhé bạn!
  • Em đọc lại công thức bài làm đi!

Câu cầu khiến có nhiều tác dụng và là một phần không thể thiếu trong giao tiếp hàng ngày.

6. Đặt 5 câu nghi vấn với các chức năng khác nhau

  1. Bài này làm thế nào bạn nhỉ? => dùng để hỏi và cần người đối thoại trả lời (nhờ vả).
  2. Sao mà học giỏi quá vậy? => Câu độc thoại và không cần người đối thoại trả lời.
  3. Bức tranh này mà đẹp à? => Câu nghi vấn dùng đe dọa.
  4. Hình như quyển truyện này mình đã đọc ở đâu rồi? => Câu tự hỏi mình.
  5. Sao nhà bạn bừa bộn thế? => Câu nghi vấn chê.

7. Viết 1 đoạn văn từ 15-18 câu phân tích bức tranh tứ bình trong bài thơ “Nhớ rừng” của nhà thơ Thế Lữ

Thế Lữ là một nhà thơ nổi tiếng của văn học Việt Nam. Trong bài thơ “Nhớ rừng”, ông sử dụng ngôn ngữ để tạo nên bức tranh tứ bình về chúa sơn lâm trong tâm hồn của chú hổ. Bức tranh mở đầu là bốn cảnh thiên nhiên đẹp mắt: đêm vàng bên bờ suối, ngày mưa, bình minh cây xanh nắng gội, chiều lênh láng máu sau rừng. Mỗi cảnh đều rực rỡ và gợi lên nỗi nhớ tiếc khôn nguôi trong con hổ. Thế Lữ miêu tả những cảnh đẹp, thơ mộng của đêm vàng rợp suối, chúa sơn lâm đứng uống ánh trăng tan. Những ngày mưa mang đến sự tươi mới cho cảnh sắc thiên nhiên. Bình minh với ánh nắng ấm áp, tiếng chim hót vang lên. Cuối cùng, chiều sau rừng máu đầy bi tráng. Sự dung dưỡng của mặt trời khiến chúa sơn lâm sẵn sàng chiếm lấy riêng mình, để lại cho ta khám phá bí mật trong vũ trụ bao la. Ta cảm nhận được lòng tự tôn, tự hào của chúa tể muôn loài thông qua những từ ngữ lớn như “ta” và “đại ngàn”. Tuy nhiên, dù hào quang còn đến đâu, đó chỉ là hồi ức trong hoài niệm. Các từ như “nào đâu” và “đâu những” nhấn mạnh sự tiếc nuối của con hổ đối với quá khứ vinh quang. Chúa sơn lâm dường như ngơ ngác trước sự thực tế phũ phàng. Giấc mơ tươi đẹp đã chấm dứt trong một tiếng thở dài u uất: “Than ôi, thời oanh liệt nay còn đâu?” Bài thơ này ấn tượng và để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc về một cuộc sống đã từng tươi đẹp của chú hổ.

About The Author