Phân tích đoạn thơ nhớ khi giặc đến giặc lùng trong Việt Bắc của Tố Hữu

Tố Hữu – một nhà thơ nổi tiếng của Việt Nam, đã viết về cuộc chiến chống Pháp của dân tộc. Thơ ông kết hợp giữa chính trị và thơ ca, sáng tạo ra những tác phẩm trữ tình lãng mạn, mang yếu tố chính trị. Tác phẩm “Việt Bắc” là một ví dụ tiêu biểu cho thơ của Tố Hữu, được sáng tác trong hoàn cảnh Đảng chuyển từ Việt Bắc về Hà Nội. Đoạn thơ “Nhớ khi giặc đến giặc lùng… Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng” là một miếng ca ân nghĩa, hùng tráng về Việt Bắc, mà tác giả hồi tưởng đầy xúc động và ân tình.

Mở bài

Tố Hữu là một nhà thơ xuất chúng của Việt Nam, ông đã ghi dấu ấn sâu đậm trong văn học dân tộc. Tác phẩm của ông kết hợp tinh tế giữa yếu tố chính trị và thơ ca, tạo nên những tác phẩm trữ tình độc đáo, đậm chất chính trị. Trong số đó, tác phẩm “Việt Bắc” là một ví dụ xuất sắc cho thơ của Tố Hữu. Đoạn thơ “Nhớ khi giặc đến giặc lùng… Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng” là một miếng ca ân nghĩa, hùng tráng về Việt Bắc, mà tác giả hồi tưởng đầy xúc động và ân tình.

Thân bài

Đoạn thơ này tái hiện hoàn cảnh chiến tranh căng thẳng và khó khăn. “Nhớ khi giặc đến giặc lùng” – một tình cảm tràn ngập nỗi nhớ. Khác với những đoạn trước, nỗi nhớ ở đây mang âm điệu của cuộc kháng chiến. Hình ảnh giặc lùng trong khúc ca này làm ta cảm nhận được sự căng thẳng, khốc liệt của cuộc chiến đấu. Chỉ khi đối diện với nguy hiểm, ta mới thấy sự dũng cảm của những chiến sĩ cách mạng.

Điều đáng chú ý là khi giặc đến, từ con người đến thiên nhiên đều trở thành người hộ vệ cho các chiến sĩ. Rừng cây, núi đá cùng các chiến sĩ cách mạng, núi đại thành lũy sắt dày, rừng là che chở cho bộ đội. So với những đoạn thơ trước, đoạn thơ này đã tạo nên một âm điệu sử thi hào hùng. Quân và dân, thiên nhiên núi rừng hòa vào nhau, tạo nên một khối sức mạnh vững chắc, cùng lòng đánh giặc. Thiên nhiên núi rừng Tây Bắc không chỉ vô tri vô giác mà còn sống động, thể hiện sự đoàn kết của dân tộc bảo vệ chiến sĩ cách mạng, góp phần vào sự giải phóng đất nước.

“Mênh mông bốn mặt sương mù” – câu thơ này mở ra một không gian lớn, khắp nơi đầy sương mù và nguy hiểm. Khung cảnh này có uy linh, nhưng cũng lãng mạn. Hình ảnh “Mênh mông bốn mặt sương mù” thể hiện sự phát triển của kháng chiến, trận chiến càng ngày càng lớn mạnh. Đặc biệt, không chỉ thiên nhiên mà cả đất trời đều là của chúng ta, đều sẵn sàng chống lại sự xâm phạm của thực dân Pháp. Cả hai câu thơ này cũng thể hiện sự đoàn kết, lòng yêu nước của dân Việt Bắc nói riêng và dân ta nói chung trong cuộc chiến.

“Ai về ai có nhớ không? Ta về ta nhớ Phủ Thông, đèo Giàng. Nhớ sông Lô, nhớ Phố Ràng. Nhớ từ Cao – Lạng, nhớ sang Nhị Hà.” – Đoạn thơ này sử dụng câu hỏi tu từ, tạo ra một cảm giác nỗi nhớ. Chiến sĩ cách mạng về không ngừng nhớ những người dân Việt Bắc đã che chở, cưu mang họ trong những năm gian khó. Và ngược lại, người dân Việt Bắc cũng không thể quên những chiến sĩ cộng sản dũng cảm, hy sinh vì tổ quốc. Sau câu hỏi tu từ là đại từ “Ta”, đại diện cho những người chiến sĩ trở về, nhớ về đồng bào Việt Bắc. Nhớ từ Phủ Thông đến đèo Giàng, từ sông Lô đến Phố Ràng, từ Cao Lạng sang Nhị Hà. Nỗi nhớ trải dài khắp Việt Bắc, thể hiện tình cảm sâu sắc và ghi dấu trong ký ức.

Đây cũng là những địa danh ghi lại những chiến công hào hùng của dân tộc. Đó là sự kiện Phủ Thông – Đèo Giàng – nơi diễn ra các trận đầu chiến dịch chống Pháp. Sông Lô – Phố Ràng, nơi đánh tàu Pháp trong chiến dịch Việt Bắc và trận đánh đồn Phố Ràng. Địa danh Cao Bằng, Lạng Sơn đại diện cho chiến dịch giải phóng biên giới Việt-Trung. Nhờ vậy, trong nỗi nhớ còn chứa đựng niềm tự hào về những chiến công hào hùng, khẳng định vai trò của con người trong chiến đấu giành độc lập.

Điệp từ nhớ nghe nhẹ nhàng mà sâu lắng, thể hiện lòng biết ơn đối với những người đã hy sinh trong chiến tranh và tự hào về Việt Bắc – cái nôi cách mạng đã nuôi dưỡng những con người lý tưởng của Đảng.

“Những đường Việt Bắc của ta. Ðêm đêm rầm rập như là đất rung” – Trong câu thơ này, tác giả mở rộng không gian của Việt Bắc. Việt Bắc trở thành con đường cách mạng dài và đêm đêm tiếng hành quân rầm rập. Hai câu thơ này thể hiện khí thế hào hùng, sức mạnh của quân và dân ta trong cuộc chiến chống Pháp.

“Quân đi điệp điệp trùng trùng. Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan. Dân công đỏ đuốc từng đoàn. Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay.” – Đoạn thơ này thể hiện đội quân hùng dũng, quyết tâm bước vào cuộc chiến. Hình ảnh “ánh sao đầu súng” đầy lãng mạn, tượng trưng cho tinh thần tự do, hy vọng vào tương lai. Hình ảnh dân công đỏ đuốc, bước chân nát đá cho thấy sự dũng mãnh, khẩn trương của những người chiến sĩ cách mạng. Đoạn thơ này tạo ra một cảm giác hùng ca chiến thắng.

“Tin vui chiến thắng trăm miền. Hoà Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về. Vui từ Đồng Tháp, An Khê. Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng.” – Đoạn thơ này thể hiện niềm vui và tự hào về chiến thắng. Tin vui từ mọi miền đất nước, từ Bắc tới Nam. Niềm vui này truyền cảm hứng và mong muốn giành độc lập cho dân tộc.

Kết bài

Đoạn thơ đã lồng ghép tinh tế giữa trữ tình và chính trị, từ nội dung đến nghệ thuật. Nó thể hiện nỗi lòng của tác giả sau nỗi nhớ là tình cảm dành cho đồng bào Việt Bắc. Đoạn thơ này cũng là một miếng ca ân nghĩa, hùng tráng về Việt Bắc trong cuộc chiến. Sự kết hợp tinh tế này đem lại tình cảm sâu lắng và mang đến cảm giác tự hào về đất nước và những chiến công hào hùng của dân tộc.

About The Author