Hãy cùng tiếp tục soạn bài tổng kết phần văn để hiểu rõ hơn về loại văn nghị luận và các văn bản nghị luận khác nhau. Trong đó, chúng ta sẽ tìm hiểu về tư tưởng, quan điểm, và hình thức thể loại của từng văn bản để thấy sự phát triển của ý thức dân tộc qua các thế kỷ.

Văn nghị luận: Xác lập tư tưởng và quan điểm

Văn nghị luận là loại văn được viết để thúc đẩy cho người nghe, người đọc một tư tưởng, quan điểm nào đó. Những bài văn nghị luận cần có luận điểm rõ ràng, có lí lẽ, và dẫn chứng thuyết phục. Những tư tưởng, quan điểm trong bài văn nghị luận chỉ có ý nghĩa khi hướng tới giải quyết những vấn đề trong cuộc sống và xã hội.

Văn nghị luận trung đại khác với văn nghị luận hiện đại. Trong văn nghị luận trung đại, sử dụng từ ngữ cổ và hình ảnh mang tính ước lệ, đồng thời thể hiện tư tưởng mệnh trời, đạo thần chủ, và tư tưởng nhân nghĩa.

Các văn bản nghị luận: Lý, tình, dẫn chứng

Các văn bản nghị luận được viết có lí, có tình, và có dẫn chứng, do đó, đều có sức thuyết phục cao. Ví dụ như trong “Chiếu dời đô”, ngoài việc lấy sử sách làm lí lẽ, tác giả còn hỏi ý kiến của các quan để có tình. Thông qua việc kể về tội ác và sự ngang ngược của kẻ thù, “Hịch tướng sĩ” khơi dậy tinh thần yêu nước và căm thù giặc trong tướng sĩ. Trong “Nước Đại Việt ta”, tác giả dựa vào các yếu tố như nền văn hiến lâu đời, lãnh thổ riêng, phong tục riêng, chù quyền, và truyền thống lịch sử để có lí.

Các văn bản trong bài: Giống nhau và khác nhau

Các văn bản trong bài có nét giống nhau và khác nhau về nội dung tư tưởng và hình thức thể loại. Giống nhau ở chỗ tất cả ba văn bản đều thể hiện tinh thần dân tộc sâu sắc và ý chí tự cường. Tuy nhiên, chúng có các thể loại khác nhau như chiếu, hịch, và cáo. “Chiếu dời đô” thể hiện ý chí tự cường của dân tộc, “Hịch tướng sĩ” thể hiện tinh thần quyết chiến quyết thắng, và “Nước Đại Việt ta” thể hiện ý thức về độc lập và chủ quyền của dân tộc.

Bình Ngô đại cáo: Tuyên ngôn độc lập của dân tộc

Thông qua văn bản “Nước Đại Việt ta”, chúng ta có thể thấy tác phẩm Bình Ngô đại cáo được coi là bản tuyên ngôn độc lập của dân tộc Việt Nam. Điều này được khẳng định dứt khoát bởi việc xác định rõ ràng nước Đại Việt là một nước độc lập, điều này được xem là chân lí hiển nhiên. So với bài “Sống núi nước Nam” đã thể hiện ý thức về nền độc lập dân tộc ở hai phương diện lãnh thổ và chủ quyền, “Nước Đại Việt ta” có những điểm mới hơn. Ý thức dân tộc trong bài này đã phát triển cao, sâu sắc, và toàn diện hơn, với nền văn hiến lâu đời, phong tục tập quán riêng, truyền thống lịch sử, và anh hùng.

Chính vì vậy, có thể nói ý thức dân tộc đã phát triển sâu sắc và toàn diện hơn nhiều trong thế kỷ XV so với thế kỷ X.

Vậy là chúng ta đã tìm hiểu về loại văn nghị luận và các văn bản nghị luận khác nhau. Hy vọng rằng thông qua bài viết này, bạn đã có cái nhìn tổng quan về nội dung tư tưởng và hình thức thể loại của các văn bản trong bài. Hãy tiếp tục khám phá thêm về văn nghị luận và sự phát triển của ý thức dân tộc trong lịch sử.

About The Author